Trợ giúp pháp lý cho trẻ em là bị hại trong các vụ án xâm hại - Những tồn tại và định hướng hoàn thiện trong luật tư pháp người chưa thành niên
Ngày đăng: 06/01/2026 08:15
Hôm nay: 0
Hôm qua: 0
Trong tuần: 0
Tất cả: 0
Ngày đăng: 06/01/2026 08:15
Trẻ em là nhóm chủ thể đặc biệt dễ bị tổn thương trong xã hội nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng, nhất là khi các em là bị hại trong các vụ án xâm hại, đặc biệt là xâm hại tình dục. Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ nhóm đối tượng yếu thế này, Điều 37 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, đồng thời nghiêm cấm mọi hành vi xâm hại, ngược đãi, bóc lột trẻ em. Nguyên tắc hiến định đó tiếp tục được cụ thể hóa tại Điều 4 và Điều 6 Luật Trẻ em năm 2016, theo đó mọi biện pháp liên quan đến trẻ em phải đặt lợi ích tốt nhất của trẻ làm tiêu chí hàng đầu.
Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã có bước tiến quan trọng khi dành riêng Chương XXVIII để quy định thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi. Đặc biệt, Điều 414 BLTTHS khẳng định yêu cầu bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và hạn chế tối đa những tổn thương về thể chất, tinh thần cho các em trong quá trình tham gia tố tụng. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các vụ án xâm hại trẻ em cho thấy các quy định này vẫn chưa được triển khai đồng bộ, nhất là trong mối liên hệ với hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL). Hệ quả là quyền được TGPL của trẻ em là bị hại trong các vụ án xâm hại tuy đã được ghi nhận về mặt pháp lý nhưng chưa được bảo đảm đầy đủ và kịp thời trên thực tế. Cụ thể:
Thứ nhất, pháp luật hiện hành chưa bảo đảm cho trẻ em được tiếp cận TGPL ngay từ giai đoạn sớm nhất của quá trình tố tụng. Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã xác định trẻ em là đối tượng được TGPL theo khoản 6 Điều 7 và quy định trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thông tin, giải thích quyền được TGPL tại Điều 8. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015 lại chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm thông báo, giới thiệu TGPL ngay từ giai đoạn tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm theo Điều 144. Khoảng trống pháp lý này dẫn đến thực tế TGPL chưa được triển khai kịp thời, thậm chí còn bị bỏ sót trong một số vụ án đã khởi tố, truy tố hoặc xét xử sơ thẩm. Trong khi đó, trẻ em đã phải tham gia các hoạt động tố tụng ban đầu như lấy lời khai, nhận dạng, đối chất mà không có sự hỗ trợ pháp lý cần thiết. Trong thực tiễn cho thấy một số vụ xâm hại tình dục ở trẻ em, do không có sự tham gia của người thực hiện TGPL ngay từ lần lấy lời khai đầu tiên, lời khai của trẻ thường thiếu đầy đủ, không nhất quán do tâm lý hoảng sợ và kỹ năng diễn đạt còn hạn chế. Điều này buộc cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành lấy lời khai nhiều lần ở các giai đoạn sau, vừa kéo dài thời gian giải quyết vụ án, vừa làm gia tăng nguy cơ tổn thương tâm lý cho trẻ em là bị hại. Điều này chưa phù hợp với tinh thần bảo đảm quyền được bảo vệ hợp pháp theo Điều 16 và Điều 19 BLTTHS, đồng thời làm suy giảm hiệu quả bảo vệ trẻ em trong tố tụng hình sự.
Thứ hai, nguyên tắc tố tụng thân thiện với trẻ em tuy đã được ghi nhận tại Điều 414 BLTTHS nhưng vẫn mang tính khung, thiếu các quy định cụ thể để triển khai trên thực tế. Các hoạt động tố tụng quan trọng như lấy lời khai, đối chất, nhận dạng theo các Điều 185, 189 và 190 BLTTHS chưa có cơ chế riêng đủ mạnh để hạn chế tối đa việc trẻ phải tham gia lặp đi lặp lại, mỗi lần tham gia các hoạt động tố tụng có thể làm sống lại cảm giác sợ hãi, xấu hổ, tội lỗi hoặc lo âu. Điều này dẫn đến các biểu hiện tâm lý tiêu cực như né tránh khai báo, hoảng loạn, mất tập trung, rối loạn cảm xúc, thậm chí ảnh hưởng đến hành vi và sự phát triển nhân cách lâu dài. Thực tiễn cho thấy trẻ em là bị hại trong các vụ án xâm hại vẫn phải tham gia nhiều lần vào các hoạt động tố tụng, tiềm ẩn nguy cơ tái sang chấn tâm lý, đi ngược lại mục tiêu bảo vệ trẻ em theo Điều 4 Luật Trẻ em năm 2016.
Đáng lưu ý, ở một số trường hợp, việc đối chất trực tiếp giữa trẻ em là bị hại và người bị buộc tội hoặc việc lấy lời khai trong không gian tố tụng thiếu tính thân thiện đã khiến họ rơi vào trạng thái sợ hãi, né tránh thậm chí là thay đổi lời khai. Những biểu hiện này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng chứng cứ mà còn để lại hệ quả tâm lý lâu dài đối với sự phát triển của trẻ em, làm cho mục tiêu “hạn chế tối đa tổn thương theo Hiều 414 BLTTHS chưa được hiện thực đầy đủ trong thực tiễn.
Thứ ba, cơ chế phối hợp liên ngành trong thực hiện TGPL cho trẻ em chưa được quy định đầy đủ và thống nhất. Khoản 2 Điều 8 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 mới chỉ dừng lại ở việc xác lập trách nhiệm phối hợp mang tính nguyên tắc. Trong khi đó, Luật Trẻ em năm 2016 (Điều 92) đã đặt ra yêu cầu phối hợp liên ngành trong công tác bảo vệ trẻ em. Việc thiếu các quy chế phối hợp cụ thể giữa cơ quan tiến hành tố tụng, tổ chức TGPL, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, cơ sở y tế và các tổ chức xã hội khiến hoạt động hỗ trợ trẻ em bị xâm hại còn rời rạc, thiếu tính hệ thống.
Trong bối cảnh đó, việc ban hành Luật Tư pháp người chưa thành niên (Luật TPNCTN) được xem là bước tiến quan trọng nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên. Luật này được xây dựng trên cơ sở tiếp cận tư pháp thân thiện, lấy trẻ em làm trung tâm và bảo đảm lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên trong toàn bộ quá trình tố tụng.
Một trong những điểm mới có ý nghĩa của Luật TPNCTN là việc thiết kế một hệ thống thủ tục tố tụng thống nhất, chuyên biệt đối với người chưa thành niên, bao gồm cả trẻ em là người bị hại. Trên cơ sở đó, các tồn tại hiện nay trong lĩnh vực TGPL cho trẻ em sẽ được giải quyết một cách căn cơ hơn.
Luật TPNCTN đã quy định rõ trách nhiệm bảo đảm quyền được TGPL cho người chưa thành niên ngay từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng, bao gồm cả giai đoạn tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm. Việc này giúp khắc phục khoảng trống giữa BLTTHS và Luật Trợ giúp pháp lý, đồng thời bảo đảm trẻ em được hỗ trợ pháp lý kịp thời, liên tục và xuyên suốt.
Luật TPNCTN đặt ra các nguyên tắc nhân văn như bảo đảm quyền được TGPL, thủ tục tố tụng thân thiện, giữ bí mật cá nhân và hỗ trợ kịp thời, nhanh nhất có thể; cụ thể hóa nguyên tắc tố tụng thân thiện bằng các quy định chi tiết về phương thức lấy lời khai, sử dụng ghi âm, ghi hình, hạn chế số lần tiếp xúc tố tụng đối với trẻ em. Khi đó, vai trò của người thực hiện TGPL không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ quyền lợi pháp lý mà còn gắn với việc hỗ trợ tâm lý, phòng ngừa tái sang chấn cho trẻ em bị xâm hại.
Bên cạnh đó, Luật TPNCTN cũng tạo cơ sở pháp lý để thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành chặt chẽ hơn giữa các cơ quan tư pháp, tổ chức TGPL và các thiết chế bảo vệ trẻ em. Đây là tiền đề quan trọng để TGPL cho trẻ em không còn mang tính hỗ trợ rời rạc mà trở thành một bộ phận hữu cơ của hệ thống tư pháp người chưa thành niên.
Việc đưa Luật TPNCTN vào cuộc sống đối mặt với nhiều thách thức. Trước hết, đào tạo chuyên biệt cho đội ngũ cán bộ tố tụng và người thực hiện TGPL, cùng việc đầu tư cơ sở vật chất thân thiện với trẻ em, đòi hỏi ngân sách ổn định và dài hạn, trong khi điều kiện giữa các địa phương còn chênh lệch. Thứ hai, cơ chế phối hợp liên ngành tuy được luật hóa nhưng trên thực tế còn khó khăn do khác biệt về chức năng, quy trình và trách nhiệm của từng cơ quan, dễ dẫn đến phối hợp hình thức. Cuối cùng, nhận thức và thói quen nghề nghiệp của một số cán bộ tố tụng vẫn mang tư duy truyền thống, chưa thực sự lấy trẻ em làm trung tâm, tạo rào cản trong hiện thực hóa các nguyên tắc tiến bộ của Luật.
Luật TPNCTN có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026 (trừ trường hợp quy định tại Điều 139, khoản 1 và khoản 2 Điều 162 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2028). Để Luật TPNCTN thực sự phát huy hiệu quả, cần song song triển khai các giải pháp về tổ chức thực hiện như:
- Tiếp tục nâng cao khả năng phát hiện và giới thiệu TGPL cho trẻ em thông qua việc phát huy vai trò của chính quyền cơ sở, nhà trường và cơ sở y tế theo Điều 54 Luật Trẻ em năm 2016. Khi Luật TPNCTN có hiệu lực, các chủ thể này cần được xác định rõ hơn trách nhiệm trong chuỗi bảo vệ trẻ em bị xâm hại.
- Cần nâng cao năng lực chuyên biệt của đội ngũ người thực hiện TGPL. Ngoài trình độ chuyên môn pháp lý theo Điều 24 và Điều 25 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, đội ngũ này cần được đào tạo chuyên sâu về tâm lý trẻ em, kỹ năng giao tiếp thân thiện, nhạy cảm giới và hỗ trợ nạn nhân - những yêu cầu sẽ được đặt ra rõ nét hơn trong hệ thống tư pháp người chưa thành niên.
- Cần bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất và nguồn lực cho TGPL theo hướng thân thiện với trẻ em. Việc đầu tư phòng làm việc, phòng lấy lời khai phù hợp với tâm lý trẻ không chỉ đáp ứng yêu cầu của Điều 414 BLTTHS mà còn phù hợp với quy định của Luật TPNCTN trong việc xây dựng một môi trường tư pháp an toàn, nhân văn cho người chưa thành niên.
Có thể khẳng định rằng, những tồn tại trong hoạt động trợ giúp pháp lý cho trẻ em là bị hại trong các vụ án xâm hại hiện nay xuất phát chủ yếu từ sự thiếu đồng bộ và chuyên biệt của hệ thống pháp luật. Luật Tư pháp người chưa thành niên ra đời đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để khắc phục những hạn chế này, đồng thời hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được TGPL cho trẻ em một cách toàn diện, hiệu quả và nhân văn hơn. Đây không chỉ là yêu cầu pháp lý mà còn là trách nhiệm xã hội, thể hiện cam kết của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền con người và lợi ích tốt nhất của trẻ em theo tinh thần Hiến pháp và các luật chuyên ngành./.
Đặng Hợi
24/10/2025 17:14:42
22/10/2025 15:02:03
23/05/2025 10:46:38
14/05/2025 10:50:38
22/04/2025 07:57:18