Đắk Lắk quy định chi tiết về thu gom bùn thải, đấu nối, dịch vụ thoát nước và trách nhiệm các bên liên quan
Ngày đăng: 20/04/2026 10:30
Hôm nay: 0
Hôm qua: 0
Trong tuần: 0
Tất cả: 0
Ngày đăng: 20/04/2026 10:30
Tiếp nối các quy định chung, tại Quyết định số 32/2026/QĐ-UBND ngày 17/4/2026, UBND tỉnh Đắk Lắk đã ban hành các quy định cụ thể liên quan đến thu gom, vận chuyển, xử lý bùn thải; quy trình đấu nối; giá dịch vụ thoát nước và phân công trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan.
Theo Điều 19, hoạt động thu gom, vận chuyển bùn thải chỉ được thực hiện bởi các tổ chức có chức năng và đủ điều kiện theo quy định pháp luật. Đối với khối lượng bùn thải, bùn nạo vét phát sinh không thường xuyên từ các dự án cải thiện môi trường đô thị, công trình hạ tầng kỹ thuật, giao thông, chủ đầu tư phối hợp với nhà thầu tổ chức thu gom, vận chuyển đến địa điểm xử lý tập trung; trường hợp không đủ năng lực có thể thuê đơn vị dịch vụ. Việc ký kết hợp đồng giữa bên phát sinh và đơn vị thu gom, vận chuyển phải thực hiện theo đúng quy định hiện hành.
Các đơn vị dịch vụ phải sử dụng phương tiện vận chuyển chuyên dụng như xà lan, xe bồn kín, xe tải thùng kín, bảo đảm không rò rỉ, có che phủ và được cấp phép lưu hành, kiểm định kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường; đồng thời tuân thủ quy định của tỉnh về tuyến đường, thời gian vận chuyển chất thải.
Về xử lý bùn thải (Điều 20), việc xử lý phải thực hiện tại các địa điểm phù hợp quy hoạch, bao gồm bãi thải, khu xử lý, tái chế theo quy định pháp luật về chất thải rắn; nghiêm cấm xử lý tại các địa điểm không được phê duyệt. Đối với các dự án nhà máy xử lý nước thải tập trung trong tương lai, nếu phát sinh bùn thải thường xuyên và ở xa khu xử lý, chủ đầu tư có thể đề xuất đầu tư hạng mục xử lý sơ bộ tại chỗ như sân phơi, máy ép bùn, bảo đảm yêu cầu công nghệ và môi trường. Tỉnh ưu tiên lựa chọn công nghệ tái chế bùn thải thành sản phẩm thân thiện môi trường, hạn chế chôn lấp, đồng thời xem xét yếu tố cạnh tranh về giá và khả năng tiêu thụ sản phẩm.
Theo Điều 21, chi phí thu gom, vận chuyển và xử lý bùn thải do tổ chức, cá nhân phát sinh chi trả; riêng bùn thải từ hệ thống thoát nước và các nhà máy xử lý nước thải do Nhà nước sở hữu thì do ngân sách nhà nước bảo đảm.
Chương V (từ Điều 22 đến Điều 27) quy định về đấu nối thoát nước. Theo đó, các hộ nằm trong phạm vi có hệ thống thu gom nước mưa, nước thải phải thực hiện đấu nối (trừ trường hợp được miễn), và chỉ được đấu nối sau khi có thỏa thuận của đơn vị thoát nước, được Sở Xây dựng chấp thuận và ký hợp đồng dịch vụ. Cao độ điểm đấu nối phải bảo đảm không gây chảy ngược; hộ thoát nước tự chịu chi phí thực hiện các biện pháp bảo vệ cần thiết.
Hộp đấu nối (Điều 23) được đầu tư từ nguồn vốn của chủ sở hữu hệ thống và xây dựng đồng bộ với các dự án; trong khi đó, hộ thoát nước có trách nhiệm đầu tư đường ống từ công trình của mình đến hộp đấu nối.
Về thời điểm đấu nối (Điều 24), các trường hợp đã đấu nối nhưng chưa phù hợp phải điều chỉnh trong thời hạn 1 năm đối với nước thải sinh hoạt và tối đa 6 tháng đối với các loại nước thải khác kể từ khi Quy định có hiệu lực và có thông báo.
Theo Điều 25, nước thải sinh hoạt phải được thu gom, đấu nối vào hệ thống xử lý tập trung; các loại nước thải khác phải xử lý sơ bộ trước khi xả. Chất lượng và khối lượng nước thải thực hiện theo quy định pháp luật và hợp đồng dịch vụ.
Các trường hợp được miễn trừ đấu nối (Điều 26) được thực hiện theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và Nghị định số 80/2014/NĐ-CP. Việc hỗ trợ đấu nối (Điều 27) thực hiện theo quy định hiện hành.
Theo Điều 28, các hộ thoát nước phải ký hợp đồng dịch vụ với đơn vị thoát nước trước khi đấu nối và xả thải, với nội dung theo quy định của Bộ Xây dựng.
Về ngừng dịch vụ thoát nước (Điều 29), đơn vị thoát nước không được ngừng cung cấp dịch vụ đối với hộ gia đình, trừ trường hợp theo hợp đồng. Đối với các đối tượng khác, việc ngừng dịch vụ được thực hiện theo lộ trình thông báo và xử lý vi phạm; trường hợp gây ô nhiễm môi trường có thể bị ngừng dịch vụ và xử lý theo quy định pháp luật. Dịch vụ được khôi phục sau khi khắc phục vi phạm. Khi tạm ngừng để sửa chữa, nâng cấp, đơn vị vận hành phải thông báo và có phương án thoát nước tạm thời; sự cố tại điểm xả phải được khắc phục trong thời gian sớm nhất, tối đa 15 ngày.
Giá dịch vụ thoát nước (Điều 30) được xác định và phê duyệt theo quy định của pháp luật về giá và xây dựng; hộ xả nước thải vào hệ thống phải thanh toán theo quy định, trường hợp xả trực tiếp ra môi trường phải nộp phí bảo vệ môi trường. Đối với khu công nghiệp, giá dịch vụ do chủ đầu tư hạ tầng thỏa thuận với các doanh nghiệp và quyết định, trên cơ sở có ý kiến của Sở Xây dựng.
Chương VII (Điều 31 đến Điều 36) quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị. Trong đó, Sở Xây dựng là cơ quan đầu mối tham mưu quản lý, thẩm định giá, hướng dẫn và tổng hợp báo cáo; Sở Nông nghiệp và Môi trường thực hiện quản lý về môi trường, giám sát chất lượng nước thải; Sở Tài chính tham mưu bố trí nguồn vốn; Sở Khoa học và Công nghệ tham gia thẩm định công nghệ; Công an tỉnh phối hợp kiểm tra, xử lý vi phạm.
Các sở, ngành liên quan phối hợp thực hiện quản lý theo lĩnh vực; Ban Quản lý các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu nông nghiệp công nghệ cao chịu trách nhiệm tổ chức vận hành, quản lý dữ liệu, báo cáo và phối hợp xác định giá dịch vụ.
UBND cấp xã (Điều 32) có trách nhiệm lập quy hoạch, bố trí quỹ đất, đầu tư, giám sát, thanh toán dịch vụ, xử lý vi phạm và tuyên truyền vận động người dân. Thanh tra tỉnh (Điều 33) thực hiện thanh tra, kiểm tra và giám sát việc chấp hành pháp luật.
Đơn vị thoát nước (Điều 34) thực hiện quản lý, vận hành theo hợp đồng, cung cấp thông tin đấu nối, báo cáo định kỳ và tổ chức kiểm tra, bảo vệ hệ thống. Chủ sở hữu công trình (Điều 35) thực hiện giám sát, nghiệm thu, thanh toán, đề xuất đầu tư và xây dựng giá dịch vụ theo quy định.
Các chủ đầu tư dự án đô thị, khu chức năng, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (Điều 36) phải bảo đảm đầu tư đồng bộ hệ thống thoát nước, xử lý nước thải, thực hiện đấu nối và thanh toán dịch vụ sau khi đưa vào khai thác.
Theo Điều 37, trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, các cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi ý kiến về Sở Xây dựng để tổng hợp, tham mưu UBND tỉnh xem xét, điều chỉnh.
Quy định kèm theo Quyết định số 32/2026/QĐ-UBND có hiệu lực từ ngày 28/4/2026, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, địa phương, doanh nghiệp và người dân trong công tác quản lý, vận hành, đấu nối, thu gom và xử lý nước thải, bùn thải trên địa bàn tỉnh. Theo Quyết định, các cơ quan, đơn vị, địa phương và tổ chức, cá nhân liên quan chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện./.
Lê Thủy
11/02/2026 08:45:12
15/01/2026 15:29:29
12/01/2026 14:30:21
24/10/2025 17:14:42