Lý Lịch Tư Pháp số 2
01/12/2021 17:53:35 - Đặng Thị Chinh
Xin Chào ! Tên tôi là Đặng Thị Chinh , sinh ngày 01/04/1996 tại Xã Hồng Châu - Huyện Đông Hưng - Tỉnh Thái Bình . Hiện tại tôi đang sinh sống tại Hàn Quốc . Hôm nay ngày 01/12/2021 tôi có tra cứu kết quả lý lịch tư pháp số 2 thì được biết kết quả là có án tích vào tháng 6/2016 về tội môi giới mại dâm tại Long Biên Hà Nội . Và tôi thực sự bất ngờ vì tôi chưa hề đến Long Biên và cũng không hề biết rằng mình từng có án tích ngồi tù như trong lý lịch tư pháp đã viết . Vậy tôi có thể làm đơn khiếu lại chuyển lên Sở Tư Pháp để đính chính lại hay làm đơn khởi kiện không ạ ? Tôi xin chân thành cảm ơn !
Trả lời có tính chất tham khảo:
Chào ban!
Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk đã kiểm tra Hệ thống lý lịch tư pháp của tỉnh, không có trường hợp nào yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp với tên, thông tin như bạn nêu. Đề nghị bạn liên hệ với Sở Tư pháp nơi bạn đã đề nghị cấp Phiếu Lý lịch tư pháp để được kiểm tra, hướng dẫn cụ thể.
Em muốn xin tờ thư xin lỗi trễ hẹn của sở tư pháp
10/11/2021 12:54:49 - Nhữ văn nam
Em muốn xin tờ thư xin lỗi trễ hẹn của sở tư pháp.
Trả lời có tính chất tham khảo:
Chào bạn!
Đối với vấn đề bạn hỏi chúng tôi xin trả lời như sau:
Phiếu xin lỗi trễ hẹn chỉ được cấp trong trường hợp giải quyết thủ tục hành chính, đến hạn nhưng chưa giải quyết xong hồ sơ mà không có lý do chính đáng; được gửi đến công dân, tổ chức có yêu cầu thực hiện thủ tục hành chính, đồng thời, đăng tải trên Trang thông tin điện tử của cơ quan, niêm yết tại điểm tiếp nhận thủ tục hành chính của đơn vị tại bộ phận Tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả[1].
Nếu hồ sơ của bạn đầy đủ, không thuộc các trường hợp cần bổ sung, xác minh nhưng đến thời hạn vẫn chưa nhận được kết quả và không có Phiếu xin lỗi trễ hẹn, đề nghị bạn liên hệ theo số điện thoại 0262.3959126 (đối với lĩnh vực hành chính tư pháp) hoặc 0262.3956950 (đối với lĩnh vực bổ trợ tư pháp) để được giải quyết.
[1] Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính; Chỉ thị 26/CT-TTg ngày 05/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp do Thủ tướng Chính phủ ban hành; Chỉ thị số 18/CT-UBND ngày 28/12/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh về thực hiện nghiêm quy định xin lỗi bằng văn bản khi giải quyết quá hạn thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Vi phạm quy định phòng chống dịch
10/11/2021 12:42:41 - Lê Hữu Phát
Xin hỏi về mức quy định xử phạt khi vi phạm nội quy của khu cách ly tập trung như thế nào? Xin cụ thể hoá mức xử phạt khi vi phamj đối với từng nội quy!
Trả lời có tính chất tham khảo:
Chào bạn!
Đối với vấn đề bạn hỏi chúng tôi xin trả lời như sau:
Theo Quyết định số 219/QĐ-BYT ngày 29/01/2020 của Bộ Y tế về việc bổ sung bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (nCov) gây ra vào danh mục các bệnh truyền nhiễm nhóm A theo quy định tại Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007.
Việc cách ly tập trung được thực hiện theo quy định tại Quyết định số 878/QĐ-BYT ngày 12/3/2020 của Bộ trường Bộ Y tế về việc ban hành “Hướng dẫn cách ly tại cơ sở cách ly tập trung phòng chống dịch Covid-19”. Tuỳ thuộc vào từng cơ sở cách ly y tế sẽ có các quy định về “nội quy cách ly” khác nhau. Người được cách ly y tế tập trung - Phòng chống bệnh viêm đường hô hấp cấp do Covid-19 đều phải tuân thủ các quy định sau: (1) Chấp hành việc cách ly y tế theo quy định; (2) Thực hiện các biện pháp vệ sinh cá nhân, đeo khẩu trang, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn khác; (3) Không được ra khỏi khu vực cách ly; (4) Hạn chế ra khỏi phòng cách ly và hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người khác trong phân khu cách. Người vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Hiện nay, mức phạt với hành vi vi phạm quy định về cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế được quy định tại Điều 11 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28/9/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế như sau:
"Điều 11. Vi phạm quy định về cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế
1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
2. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Không tổ chức cách ly y tế đối với người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A;
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc thực hiện việc cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế đối với hành vi quy định tại các điểm a, b khoản 1 và các điểm a, b khoản 2 Điều này."
Như vậy, đối với những trường hợp phải thực hiện cách ly y tế tập trung mà chối hoặc trốn khỏi khu vực cách ly y tế sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng; đối với người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A mà từ chối hoặc trốn khỏi khu vực cách ly y tế sẽ bị phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Đồng thời, buộc phải tiếp tục thực hiện việc cách ly y tế theo khoản 3 Điều 11 Nghị định 117/2020/NĐ-CP.
Ngoài ra, trường hợp bỏ trốn khỏi khu vực cách ly y tế dẫn đến gây hậu quả nghiêm trọng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể: Theo khoản 1 Công văn số 45/TANDTC-PC ngày 30/3/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc xét xử tội phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid-19, trốn tránh việc áp dụng biện pháp cách ly bị coi là trường hợp thực hiện “hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 240 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 về tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho người.
Cụ thể, mức phạt áp dụng cho người không tuân thủ cách ly làm lây lan dịch bệnh theo quy định của Điều 240 Bộ luật Hình sự năm 2015 là phạt tiền từ 50 - 200 triệu đồng hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Ngoài ra, tùy thuộc vào hậu quả của hành vi trốn cách ly, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 05 - 10 năm khi dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc làm chết 01 người.
Trường hợp dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ hoặc làm chết 02 người trở lên thì bị phạt tù từ 10 - 12 năm.
Hình phạt bổ sung của tội này là phạt tiền từ 20 - 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 - 05 năm.
Thắc mắc về cccd gắn chíp
21/10/2021 10:46:35 - Phạm Thị Như Quỳnh
Cháu năm nay lớp 12. Cháu làm cccd từ tháng 2/2021 đến nay 21/10 vẫn chưa có cccd. Lúc làm cccd cháu cũng không có giấy hẹn. Bạn bè trang lứa đều có hết. Liệu tới bao giờ cháu mới có ạ. Cháu cần gấp thì phải làm sao ạ.
Trả lời có tính chất tham khảo:
Xin chào bạn chúng tôi rất vui vì bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến Ban Biên tập cổng thông tin điện tử Sở Tư pháp. Tuy nhiên, liên quan đến nội dung câu hỏi, việc cấp Căn cước công dân do bên Công an quản lý, do đó, Ban biên tập thấy rằng để được hướng dẫn chi tiết về vấn đề này bạn có thể liên hệ với cơ quan bcông an nơi bạn đăng ký làm thẻ Căn cước công dân.
công chứng chứng chỉ
19/10/2021 11:25:01 - Nguyễn Thị Thu Diễm
Cho em hỏi, em có bằng TOEIC tiếng anh là phải lên Sở Tư Pháp công chứng đúng không ạ?
Trả lời có tính chất tham khảo:
Chào bạn!
Đối với vấn đề bạn hỏi chúng tôi xin trả lời như sau:
Đối với bản chính các giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp hoặc chứng nhận, đề nghị bạn liên hệ Phòng Tư pháp huyện, thị xã, thành phố; hoặc tổ chức công chứng; hoặc cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để đề nghị chứng thực[1].
[1]Nghị định số 23/2015/NĐ-CP; khoản 1 Điều 2, Điều 77 Luật Công chứng năm 2014
Hỏi về hỗ trợ COVID-19 đối với nhân viên lễ Tân khách sạn
20/08/2021 15:01:08 - Nguyễn thị hiền
Dạ anh chị cho e hỏi ? Em là nhân viên lễ Tân khách sạn do ảnh hưởng của COVID khách sạn nơi em đang làm việc hiện đang nghỉ , e đã nghỉ được 25 ngày thì em có nhận được được hỗ trợ không ạ ? Và em lên đâu để đăng ký thủ tục như thế nào ạ . Em cảm ơn anh chị ! Rất mong anh chị trả lời giúp e ạ !
Trả lời có tính chất tham khảo:
Chào bạn!
Sở Tư pháp nhận được câu hỏi của bạn về đối tượng và thủ tục giải quyết chế độ hỗ trợ khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19. Do trường hợp bạn hỏi chưa đầy đủ thông tin cần thiết (bạn làm việc ở địa phương nào, bạn có ký kết hợp đồng lao động không…), nên chúng tôi xin trả lời bạn như sau:
1. Trường hợp bạn có giao kết hợp đồng lao động và đang làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên hoặc chi đầu tư và chi thường xuyên, phải dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch Covid-19 trong thời gian từ ngày 10/5/2021 đến hết ngày 31/12/2021, thì theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 07/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, việc xem xét và giải quyết hỗ trợ được quy định như sau:
a) Có đủ các điều kiện:
- Tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương trong thời hạn của hợp đồng lao động, từ 15 ngày liên tục trở lên, tính từ ngày 01/5/2021 đến hết ngày 31/12/2021 và thời điểm bắt đầu tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương từ ngày 01/5/2021 đến ngày 31/12/2021.
- Đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tại tháng liền kề trước thời điểm người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương.
b) Mức hỗ trợ: 1.855.000 đồng/người đối với người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương từ 15 ngày liên tục trở lên đến dưới 01 tháng (30 ngày); 3.710.000 đồng/người đối với người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương từ 01 tháng (30 ngày) trở lên. Người lao động đang mang thai được hỗ trợ thêm 1.000.000 đồng/người; người lao động đang nuôi con đẻ hoặc con nuôi hoặc chăm sóc thay thế trẻ em chưa đủ 06 tuổi thì được hỗ trợ thêm 1.000.000 đồng/trẻ em chưa đủ 06 tuổi và chỉ hỗ trợ cho 01 người là mẹ hoặc cha hoặc người chăm sóc thay thế trẻ em.
c) Hồ sơ đề nghị:
- Bản sao văn bản thỏa thuận tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương.
- Danh sách người lao động có xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội theo Mẫu số 05 tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.
- Bản sao có chứng thực hoặc bản sao kèm theo bản chính để đối chiếu một trong các giấy tờ sau: Giấy tờ chứng minh người lao động đang mang thai; Giấy khai sinh hoặc Giấy chứng sinh của trẻ em; Giấy chứng nhận nuôi con nuôi; Quyết định giao, nhận chăm sóc thay thế trẻ em của cơ quan có thẩm quyền đối với đối tượng được quy định tại khoản 2 Điều 14 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.
d) Trình tự, thủ tục thực hiện: Doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp công lập, cơ sở giáo dục đề nghị cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội.
2. Đối với trường hợp không giao kết hợp đồng lao động thì được xem như lao động tự do. Theo Quyết định số 2063/QĐ-UBND ngày 31/7/2021 của UBND tỉnh về việc hỗ trợ người lao động không có giao kết hợp đồng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19, việc xem xét và giải quyết đối với trường hợp này được quy định như sau:
a) Có đủ các điều kiện:
- Mất việc làm và không có thu nhập hoặc có thu nhập thấp hơn mức chuẩn cận nghèo quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020, trong thời gian từ ngày 01/5/2021 đến ngày 31/12/2021 (khu vực nông thôn: 1.000.000 đồng/người/tháng; khu vực thành thị: 1.300.000 đồng/người/tháng).
- Cư trú hợp pháp tại địa phương (trường hợp tạm trú phải có đăng ký tạm trú được cơ quan công an xác nhận). Thuộc lĩnh vực lưu trú: Bao gồm dịch vụ lưu trú ngắn ngày (khách sạn; căn hộ kinh doanh dịch vụ lưu trú ngắn ngày; nhà khách, nhà nghỉ kinh doanh dịch vụ lưu trú ngắn ngày; nhà trọ, phòng trọ và các cơ sở lưu trú ngắn ngày tương tự); cơ sở lưu trú khác (ký túc xá học sinh, sinh viên; chỗ nghỉ trọ trên xe lưu động, lều quán, trại dùng để nghỉ tạm).
b) Mức hỗ trợ là 50.000 đồng/người/ngày căn cứ theo thực tế số ngày tạm dừng hoạt động các ngành nghề, công việc theo quyết định, văn bản của UBND tỉnh hoặc UBND huyện, thị xã, thành phố để phòng, chống dịch COVID-19; số ngày hỗ trợ không quá 30 ngày. Mỗi đối tượng chỉ được hưởng chính sách hỗ trợ đối với người lao động không có giao kết hợp đồng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 một lần.
c) Thủ tục giải quyết: Đăng ký làm thủ tục nhận tiền hỗ trợ Covid-19 trên Cổng Dịch vụ công quốc gia tại địa chỉ: https://ncovi.dichvucong.gov.vn/p/home/dvc-ncovid-danh-sach-dich-vu-cong.html.
Chi tiết mời bạn tìm đọc: Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 07/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 và Quyết định số 2063/QĐ-UBND ngày 31/7/2021 của UBND tỉnh về việc hỗ trợ người lao động không có giao kết hợp đồng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19.
Trường hợp cần thiết, bạn liên hệ Sở Lao động, Thương binh và Xã hội để được hướng dẫn thêm.
Trân trọng!
Chuyển đổi văn phòng luật sư thành công ty luật
13/08/2021 16:30:14 - Lê Quốc Hùng
Pháp luật quy định thế nào về việc chuyển đổi văn phòng luật sư thành công ty luật?
Trả lời có tính chất tham khảo:
1. Văn phòng luật sư có thể chuyển đổi thành công ty luật trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty luật hợp danh trên cơ sở kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ của văn phòng luật sư theo quy định của pháp luật.
2. Hồ sơ chuyển đổi văn phòng luật sư được gửi đến Sở Tư pháp nơi công ty luật đăng ký hoạt động. Hồ sơ gồm có:
- Giấy đề nghị chuyển đổi trong đó nêu rõ mục đích, lý do chuyển đổi và cam kết về việc kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của văn phòng luật sư được chuyển đổi.
- Dự thảo Điều lệ của công ty luật chuyển đổi.
- Giấy đăng ký hoạt động của văn phòng luật sư được chuyển đổi.
- Danh sách thành viên hoặc luật sư chủ sở hữu; bản sao Thẻ luật sư của luật sư chủ sở hữu hoặc các luật sư thành viên của công ty luật chuyển đổi.
- Bản sao giấy tờ chứng minh về trụ sở trong trường hợp có thay đổi về trụ sở.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp cấp Giấy đăng ký hoạt động cho công ty luật chuyển đổi; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
3. Thủ tục công bố nội dung đăng ký hoạt động của công ty luật chuyển đổi được thực hiện theo quy định tại Điều 38 của Luật luật sư.
Cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư đối với những trường hợp bị thu hồi Chứng chỉ
15/06/2021 15:25:22 - Đào Văn Cường
Pháp luật hiện hành quy định thế nào về cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư đối với những trường hợp bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư?
Trả lời có tính chất tham khảo:
Người đề nghị cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư có hồ sơ gửi Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư (đối với trường hợp đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư) hoặc Sở Tư pháp nơi thường trú (đối với trường hợp được miễn tập sự hành nghề luật sư). Hồ sơ gồm có:
- Đơn đề nghị cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư.
- Phiếu lý lịch tư pháp.
- Giấy chứng nhận sức khoẻ.
- Bản sao Bằng cử nhân luật hoặc bản sao Bằng thạc sỹ luật trừ những người là giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật.
- Quyết định cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư trước đây.
- Bản sao Giấy chứng nhận kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư đối với người đạt yêu cầu kiểm tra hoặc bản sao giấy tờ chứng minh là người được miễn tập sự hành nghề luật sư quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật luật sư.
- Giấy tờ chứng minh lý do bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư không còn.
Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư chuyển hồ sơ cho Sở Tư pháp kèm theo bản xác nhận người đề nghị cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư có đủ tiêu chuẩn luật sư theo quy định của Luật luật sư.
Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, trong trường hợp cần thiết thì tiến hành xác minh tính hợp pháp của hồ sơ và có văn bản đề nghị kèm theo hồ sơ cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư gửi Bộ Tư pháp.Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư./.
Thời hạn của Phiếu lý lịch tư pháp số 1
20/05/2021 08:27:57 - Hoàng Dũng
Xin được hỏi Phiếu lý lịch tư pháp số 1 có thời hạn không? Tôi đã được cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1 rồi, sau 2 năm công ty yêu cầu bổ sung Phiếu lý lịch tư pháp số 1 mới, thì thủ tục xin cấp lại sẽ như ban đầu đúng không? Tôi có thể xin trích lục Phiếu lý lịch tư pháp được không?
Trả lời có tính chất tham khảo:
Chào bạn, hiện nay, Luật lý lịch tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định thời hạn sử dụng của Phiếu lý lịch tư pháp. Tùy vào từng lĩnh vực mà Phiếu lý lịch tư pháp được chấp nhận trong thời hạn 3 tháng, 6 tháng hoặc một năm kể từ ngày cấp Phiếu.
Trước đây bạn đã yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1, sau hai năm công ty yêu cầu bạn bổ sung Phiếu lý lịch tư pháp số 1 thì thủ tục, hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu bạn thực hiện như ban đầu. Bạn nên phô tô Phiếu đã được cấp trước đây kèm vào hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu để Sở Tư pháp biết trước đây bạn đã được cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1 thì thời gian tra cứu thông tin lý lịch tư pháp để cấp Phiếu cho bạn sẽ được rút ngắn vì Sở Tư pháp chỉ cần tra cứu thông tin từ thời điểm bạn xin cấp Phiếu số 1 đến nay.
Hiện nay, pháp luật về vý lịch tư pháp không quy định về việc trích lục Phiếu lý lịch tư pháp, vì vậy, khi cần Phiếu lý lịch tư pháp, bạn vẫn phải làm thủ tục yêu cầu cấp Phiếu.
Nhờ người làm chứng khi thực hiện chứng thực điểm chỉ trong Bản cam kết do ngân hàng soạn sẵn
19/05/2021 13:41:39 - Lê Thị Hoa
Do cần vốn đầu tư vào làm ăn, gia đình tôi đã ký hợp đồng thế chấp tài sản (là quyền sử dụng đất nông nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu) để vay tiền tại một ngân hàng thương mại. Hợp đồng này đã được văn phòng công chứng trên địa bàn huyện công chứng. Trên mảnh đất này đã có nhà ở và một số tài sản có giá trị khác nhưng vì một số lý do nên chưa được cơ quan nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Để thực hiện hợp đồng thế chấp đã ký trước đó, ngân hàng yêu cầu gia đình tôi phải đến Ủy ban nhân dân xã chứng thực chữ ký vào “Bản cam kết (về việc thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Hợp đồng thế chấp)” do ngân hàng soạn sẵn; theo đó, vợ chồng tôi phải cam đoan trong thời gian hợp đồng thế chấp còn hiệu lực thì không được thực hiện việc mua bán, chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, thế chấp tài gắn liền trên đất. Tại phần cuối của Bản cam kết này cũng ghi rõ “Bản cam kết này là một phần không tách rời của Hợp đồng thế chấp”. Vợ chồng tôi đều không biết chữ, tôi có thể nhờ người làm chứng khi thực hiện chứng thực điểm chỉ trong Bản cam kết do ngân hàng soạn sẵn không?
Trả lời có tính chất tham khảo:
1. Về vấn đề người làm chứng trong chứng thực chữ ký
Theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (sau đây gọi là Nghị định số 23/2015/NĐ-CP) thì “Người yêu cầu chứng thực chữ ký phải chịu trách nhiệm về nội dung của giấy tờ, văn bản mà mình ký để yêu cầu chứng thực chữ ký;…”.
Và tại khoản 2 Điều 24 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP quy định “Người thực hiện chứng thực kiểm tra giấy tờ yêu cầu chứng thực, nếu thấy đủ giấy tờ theo quy định tại Khoản 1 Điều này, tại thời điểm chứng thực, người yêu cầu chứng thực minh mẫn, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình và việc chứng thực không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 25 của Nghị định này thì yêu cầu người yêu cầu chứng thực ký trước mặt và thực hiện chứng thực…”.
Bên cạnh đó, theo Điều 26 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thì “Việc chứng thực chữ ký…cũng được áp dụng trong trường hợp chứng thực điểm chỉ khi người yêu cầu chứng thực chữ ký không ký được và trường hợp người yêu cầu chứng thực không thể ký, điểm chỉ được”.
Như vậy, về nguyên tắc, người thực hiện chứng thực chữ ký phải kiểm tra giấy tờ, hồ sơ và sự minh mẫn, khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của người yêu cầu chứng thực chữ ký (hoặc điểm chỉ) trước khi thực hiện việc chứng thực chữ ký (hoặc điểm chỉ); pháp luật hiện hành không quy định vấn đề người làm chứng trong hoạt động chứng thực chữ ký. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Thông tư 01/2020/TT-BTP ngày 03/3/2020 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thì “Khi tiếp nhận, giải quyết yêu cầu chứng thực, người tiếp nhận hồ sơ và người thực hiện chứng thực không được đặt thêm thủ tục, không được gây phiền hà, yêu cầu nộp thêm giấy tờ trái quy định của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP và Thông tư này”.
Do pháp luật hiện hành không quy định vấn đề người làm chứng trong hoạt động chứng thực chữ ký nên để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của mình, vợ chồng bà có thể đề nghị người thực hiện chứng thực đọc lại toàn bộ nội dung của văn bản trước khi thực hiện chứng thực điểm chỉ trong giấy tờ liên quan đến bản thân.
2. Về chứng thực chữ ký trong Bản cam kết (về việc thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Hợp đồng thế chấp)
Theo quy định tại khoản 4 Điều 25 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thì không được chứng thực chữ ký đối với “Giấy tờ, văn bản có nội dung là hợp đồng, giao dịch…”. Trong khi đó, toàn bộ nội dung của Bản cam kết (về việc thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Hợp đồng thế chấp) lại thể hiện đây là giao dịch dân sự. Đối tượng của giao dịch dân sự này là “toàn bộ tài sản gắn liền với đất theo Hợp đồng thế chấp”.
Ngoài ra, nếu nội dung của Bản cam kết này có ghi “Bản cam kết này là một phần không tách rời của Hợp đồng thế chấp” thì đây thực chất là Phụ lục của Hợp đồng thế chấp đã ký trước đó giữa tổ chức tín dụng và người có tài sản thế chấp. Tại khoản 1 Điều 403 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Hợp đồng có thể có phụ lục kèm theo để quy định chi tiết một số điều khoản của hợp đồng. Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng. Nội dung của phụ lục hợp đồng không được trái với nội dung của hợp đồng”. Theo đó, phụ lục hợp đồng là một bộ phận không thể tách rời của Hợp đồng. Do đó, về hình thức, nếu Hợp đồng được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực thì phụ lục hợp đồng cũng phải tuân theo những quy định như vậy.
Như vậy, việc ngân hàng hướng dẫn vợ chồng bà đến Ủy ban nhân dân xã chứng thực điểm chỉ trong Bản cam kết này không phù hợp pháp luật hiện hành. Bà có thể đề nghị với ngân hàng hướng.