04:39 Thứ ba , Ngày 30 Tháng 11 Năm 2021

Hỏi về hỗ trợ COVID-19 đối với nhân viên lễ Tân khách sạn

20/08/2021 15:01:08 - Nguyễn thị hiền

Dạ anh chị cho e hỏi ? Em là nhân viên lễ Tân khách sạn do ảnh hưởng của COVID khách sạn nơi em đang làm việc hiện đang nghỉ , e đã nghỉ được 25 ngày thì em có nhận được được hỗ trợ không ạ ? Và em lên đâu để đăng ký thủ tục như thế nào ạ . Em cảm ơn anh chị ! Rất mong anh chị trả lời giúp e ạ !

Trả lời có tính chất tham khảo:

Chào bạn!

Sở Tư pháp nhận được câu hỏi của bạn về đối tượng và thủ tục giải quyết chế độ hỗ trợ khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19. Do trường hợp bạn hỏi chưa đầy đủ thông tin cần thiết (bạn làm việc ở địa phương nào, bạn có ký kết hợp đồng lao động không…), nên chúng tôi xin trả lời bạn như sau:

1. Trường hợp bạn có giao kết hợp đồng lao động và đang làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên hoặc chi đầu tư và chi thường xuyên, phải dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch Covid-19 trong thời gian từ ngày 10/5/2021 đến hết ngày 31/12/2021, thì theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 07/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, việc xem xét và giải quyết hỗ trợ được quy định như sau:

a) Có đủ các điều kiện:

- Tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương trong thời hạn của hợp đồng lao động, từ 15 ngày liên tục trở lên, tính từ ngày 01/5/2021 đến hết ngày 31/12/2021 và thời điểm bắt đầu tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương từ ngày 01/5/2021 đến ngày 31/12/2021.

- Đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tại tháng liền kề trước thời điểm người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương.

b) Mức hỗ trợ: 1.855.000 đồng/người đối với người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương từ 15 ngày liên tục trở lên đến dưới 01 tháng (30 ngày);  3.710.000 đồng/người đối với người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương từ 01 tháng (30 ngày) trở lên. Người lao động đang mang thai được hỗ trợ thêm 1.000.000 đồng/người; người lao động đang nuôi con đẻ hoặc con nuôi hoặc chăm sóc thay thế trẻ em chưa đủ 06 tuổi thì được hỗ trợ thêm 1.000.000 đồng/trẻ em chưa đủ 06 tuổi và chỉ hỗ trợ cho 01 người là mẹ hoặc cha hoặc người chăm sóc thay thế trẻ em.

c) Hồ sơ đề nghị:

- Bản sao văn bản thỏa thuận tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương.

- Danh sách người lao động có xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội theo Mẫu số 05 tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.

- Bản sao có chứng thực hoặc bản sao kèm theo bản chính để đối chiếu một trong các giấy tờ sau: Giấy tờ chứng minh người lao động đang mang thai; Giấy khai sinh hoặc Giấy chứng sinh của trẻ em; Giấy chứng nhận nuôi con nuôi; Quyết định giao, nhận chăm sóc thay thế trẻ em của cơ quan có thẩm quyền đối với đối tượng được quy định tại khoản 2 Điều 14 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.

d) Trình tự, thủ tục thực hiện: Doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp công lập, cơ sở giáo dục đề nghị cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội.

2.  Đối với trường hợp không giao kết hợp đồng lao động thì được xem như lao động tự do. Theo Quyết định số 2063/QĐ-UBND ngày 31/7/2021 của UBND tỉnh về việc hỗ trợ người lao động không có giao kết hợp đồng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19, việc xem xét và giải quyết đối với trường hợp này được quy định như sau:

a) Có đủ các điều kiện:

- Mất việc làm và không có thu nhập hoặc có thu nhập thấp hơn mức chuẩn cận nghèo quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020, trong thời gian từ ngày 01/5/2021 đến ngày 31/12/2021 (khu vực nông thôn: 1.000.000 đồng/người/tháng; khu vực thành thị: 1.300.000 đồng/người/tháng).

- Cư trú hợp pháp tại địa phương (trường hợp tạm trú phải có đăng ký tạm trú được cơ quan công an xác nhận). Thuộc lĩnh vực lưu trú: Bao gồm dịch vụ lưu trú ngắn ngày (khách sạn; căn hộ kinh doanh dịch vụ lưu trú ngắn ngày; nhà khách, nhà nghỉ kinh doanh dịch vụ lưu trú ngắn ngày; nhà trọ, phòng trọ và các cơ sở lưu trú ngắn ngày tương tự); cơ sở lưu trú khác (ký túc xá học sinh, sinh viên; chỗ nghỉ trọ trên xe lưu động, lều quán, trại dùng để nghỉ tạm).

b) Mức hỗ trợ là 50.000 đồng/người/ngày căn cứ theo thực tế số ngày tạm dừng hoạt động các ngành nghề, công việc theo quyết định, văn bản của UBND tỉnh hoặc UBND huyện, thị xã, thành phố để phòng, chống dịch COVID-19; số ngày hỗ trợ không quá 30 ngày. Mỗi đối tượng chỉ được hưởng chính sách hỗ trợ đối với người lao động không có giao kết hợp đồng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 một lần.

c) Thủ tục giải quyết: Đăng ký làm thủ tục nhận tiền hỗ trợ Covid-19 trên Cổng Dịch vụ công quốc gia tại địa chỉ: https://ncovi.dichvucong.gov.vn/p/home/dvc-ncovid-danh-sach-dich-vu-cong.html.

Chi tiết mời bạn tìm đọc: Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 07/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 và Quyết định số 2063/QĐ-UBND ngày 31/7/2021 của UBND tỉnh về việc hỗ trợ người lao động không có giao kết hợp đồng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19.

Trường hợp cần thiết, bạn liên hệ Sở Lao động, Thương binh và Xã hội để được hướng dẫn thêm.

Trân trọng!

 

 

Chuyển đổi văn phòng luật sư thành công ty luật

13/08/2021 16:30:14 - Lê Quốc Hùng

Pháp luật quy định thế nào về việc chuyển đổi văn phòng luật sư thành công ty luật?

Trả lời có tính chất tham khảo:

1. Văn phòng luật sư có thể chuyển đổi thành công ty luật trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty luật hợp danh trên cơ sở kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ của văn phòng luật sư theo quy định của pháp luật.

2. Hồ sơ chuyển đổi văn phòng luật sư được gửi đến Sở Tư pháp nơi công ty luật đăng ký hoạt động. Hồ sơ gồm có:

- Giấy đề nghị chuyển đổi trong đó nêu rõ mục đích, lý do chuyển đổi và cam kết về việc kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của văn phòng luật sư được chuyển đổi.

- Dự thảo Điều lệ của công ty luật chuyển đổi.

- Giấy đăng ký hoạt động của văn phòng luật sư được chuyển đổi.

- Danh sách thành viên hoặc luật sư chủ sở hữu; bản sao Thẻ luật sư của luật sư chủ sở hữu hoặc các luật sư thành viên của công ty luật chuyển đổi.

- Bản sao giấy tờ chứng minh về trụ sở trong trường hợp có thay đổi về trụ sở.

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp cấp Giấy đăng ký hoạt động cho công ty luật chuyển đổi; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

3. Thủ tục công bố nội dung đăng ký hoạt động của công ty luật chuyển đổi được thực hiện theo quy định tại Điều 38 của Luật luật sư.

Cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư đối với những trường hợp bị thu hồi Chứng chỉ

15/06/2021 15:25:22 - Đào Văn Cường

Pháp luật hiện hành quy định thế nào về cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư đối với những trường hợp bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư?

Trả lời có tính chất tham khảo:

Người đề nghị cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư có hồ sơ gửi Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư (đối với trường hợp đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư) hoặc Sở Tư pháp nơi thường trú (đối với trường hợp được miễn tập sự hành nghề luật sư). Hồ sơ gồm có:

- Đơn đề nghị cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư.

- Phiếu lý lịch tư pháp.

- Giấy chứng nhận sức khoẻ.

- Bản sao Bằng cử nhân luật hoặc bản sao Bằng thạc sỹ luật trừ những người là giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật.

- Quyết định cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư trước đây.

- Bản sao Giấy chứng nhận kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư đối với người đạt yêu cầu kiểm tra hoặc bản sao giấy tờ chứng minh là người được miễn tập sự hành nghề luật sư quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật luật sư.

- Giấy tờ chứng minh lý do bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư không còn.

Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư chuyển hồ sơ cho Sở Tư pháp kèm theo bản xác nhận người đề nghị cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư có đủ tiêu chuẩn luật sư theo quy định của Luật luật sư.

Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, trong trường hợp cần thiết thì tiến hành xác minh tính hợp pháp của hồ sơ và có văn bản đề nghị kèm theo hồ sơ cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư gửi Bộ Tư pháp.Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư./.

Thời hạn của Phiếu lý lịch tư pháp số 1

20/05/2021 08:27:57 - Hoàng Dũng

Xin được hỏi Phiếu lý lịch tư pháp số 1 có thời hạn không? Tôi đã được cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1 rồi, sau 2 năm công ty yêu cầu bổ sung Phiếu lý lịch tư pháp số 1 mới, thì thủ tục xin cấp lại sẽ như ban đầu đúng không? Tôi có thể xin trích lục Phiếu lý lịch tư pháp được không?

Trả lời có tính chất tham khảo:

Chào bạn, hiện nay, Luật lý lịch tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định thời hạn sử dụng của Phiếu lý lịch tư pháp. Tùy vào từng lĩnh vực mà Phiếu lý lịch tư pháp được chấp nhận trong thời hạn 3 tháng, 6 tháng hoặc một năm kể từ ngày cấp Phiếu.
Trước đây bạn đã yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1, sau hai năm công ty yêu cầu bạn bổ sung Phiếu lý lịch tư pháp số 1 thì thủ tục, hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu bạn thực hiện như ban đầu. Bạn nên phô tô Phiếu đã được cấp trước đây kèm vào hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu để Sở Tư pháp biết trước đây bạn đã được cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1 thì thời gian tra cứu thông tin lý lịch tư pháp để cấp Phiếu cho bạn sẽ được rút ngắn vì Sở Tư pháp chỉ cần tra cứu thông tin từ thời điểm bạn xin cấp Phiếu số 1 đến nay.
Hiện nay, pháp luật về vý lịch tư pháp không quy định về việc trích lục Phiếu lý lịch tư pháp, vì vậy, khi cần Phiếu lý lịch tư pháp, bạn vẫn phải làm thủ tục yêu cầu cấp Phiếu.

 

Nhờ người làm chứng khi thực hiện chứng thực điểm chỉ trong Bản cam kết do ngân hàng soạn sẵn

19/05/2021 13:41:39 - Lê Thị Hoa

Do cần vốn đầu tư vào làm ăn, gia đình tôi đã ký hợp đồng thế chấp tài sản (là quyền sử dụng đất nông nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu) để vay tiền tại một ngân hàng thương mại. Hợp đồng này đã được văn phòng công chứng trên địa bàn huyện công chứng. Trên mảnh đất này đã có nhà ở và một số tài sản có giá trị khác nhưng vì một số lý do nên chưa được cơ quan nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Để thực hiện hợp đồng thế chấp đã ký trước đó, ngân hàng yêu cầu gia đình tôi phải đến Ủy ban nhân dân xã chứng thực chữ ký vào “Bản cam kết (về việc thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Hợp đồng thế chấp)” do ngân hàng soạn sẵn; theo đó, vợ chồng tôi phải cam đoan trong thời gian hợp đồng thế chấp còn hiệu lực thì không được thực hiện việc mua bán, chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, thế chấp tài gắn liền trên đất. Tại phần cuối của Bản cam kết này cũng ghi rõ “Bản cam kết này là một phần không tách rời của Hợp đồng thế chấp”. Vợ chồng tôi đều không biết chữ, tôi có thể nhờ người làm chứng khi thực hiện chứng thực điểm chỉ trong Bản cam kết do ngân hàng soạn sẵn không?

Trả lời có tính chất tham khảo:

1. Về vấn đề người làm chứng trong chứng thực chữ ký

     Theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (sau đây gọi là Nghị định số 23/2015/NĐ-CP) thì “Người yêu cầu chứng thực chữ ký phải chịu trách nhiệm về nội dung của giấy tờ, văn bản mà mình ký để yêu cầu chứng thực chữ ký;…”.

     Và tại khoản 2 Điều 24 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP quy định “Người thực hiện chứng thực kiểm tra giấy tờ yêu cầu chứng thực, nếu thấy đủ giấy tờ theo quy định tại Khoản 1 Điều này, tại thời điểm chứng thực, người yêu cầu chứng thực minh mẫn, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình và việc chứng thực không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 25 của Nghị định này thì yêu cầu người yêu cầu chứng thực ký trước mặt và thực hiện chứng thực…”.

     Bên cạnh đó, theo Điều 26 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thì “Việc chứng thực chữ ký…cũng được áp dụng trong trường hợp chứng thực điểm chỉ khi người yêu cầu chứng thực chữ ký không ký được và trường hợp người yêu cầu chứng thực không thể ký, điểm chỉ được”.

     Như vậy, về nguyên tắc, người thực hiện chứng thực chữ ký phải kiểm tra giấy tờ, hồ sơ và sự minh mẫn, khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của người yêu cầu chứng thực chữ ký (hoặc điểm chỉ) trước khi thực hiện việc chứng thực chữ ký (hoặc điểm chỉ); pháp luật hiện hành không quy định vấn đề người làm chứng trong hoạt động chứng thực chữ ký. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Thông tư 01/2020/TT-BTP ngày 03/3/2020 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thì “Khi tiếp nhận, giải quyết yêu cầu chứng thực, người tiếp nhận hồ sơ và người thực hiện chứng thực không được đặt thêm thủ tục, không được gây phiền hà, yêu cầu nộp thêm giấy tờ trái quy định của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP và Thông tư này”.

     Do pháp luật hiện hành không quy định vấn đề người làm chứng trong hoạt động chứng thực chữ ký nên để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của mình, vợ chồng bà có thể đề nghị người thực hiện chứng thực đọc lại toàn bộ nội dung của văn bản trước khi thực hiện chứng thực điểm chỉ trong giấy tờ liên quan đến bản thân.

2. Về chứng thực chữ ký trong Bản cam kết (về việc thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Hợp đồng thế chấp)

     Theo quy định tại khoản 4 Điều 25 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thì không được chứng thực chữ ký đối với “Giấy tờ, văn bản có nội dung là hợp đồng, giao dịch…”. Trong khi đó, toàn bộ nội dung của Bản cam kết (về việc thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Hợp đồng thế chấp) lại thể hiện đây là giao dịch dân sự. Đối tượng của giao dịch dân sự này là “toàn bộ tài sản gắn liền với đất theo Hợp đồng thế chấp”.

     Ngoài ra, nếu nội dung của Bản cam kết này có ghi “Bản cam kết này là một phần không tách rời của Hợp đồng thế chấp” thì đây thực chất là Phụ lục của Hợp đồng thế chấp đã ký trước đó giữa tổ chức tín dụng và người có tài sản thế chấp. Tại khoản 1 Điều 403 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Hợp đồng có thể có phụ lục kèm theo để quy định chi tiết một số điều khoản của hợp đồng. Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng. Nội dung của phụ lục hợp đồng không được trái với nội dung của hợp đồng”. Theo đó, phụ lục hợp đồng là một bộ phận không thể tách rời của Hợp đồng. Do đó, về hình thức, nếu Hợp đồng được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực thì phụ lục hợp đồng cũng phải tuân theo những quy định như vậy.

     Như vậy, việc ngân hàng hướng dẫn vợ chồng bà đến Ủy ban nhân dân xã chứng thực điểm chỉ trong Bản cam kết này không phù hợp pháp luật hiện hành. Bà có thể đề nghị với ngân hàng hướng.

 

Đăng ký tuyển dụng công chức

19/05/2021 13:40:15 - Nguyễn Hoàng Huy

Em mới tốt nghiệp đại học xếp loại xuất sắc, do gia đình có mỗi em là con gái, anh trai lại đi làm xa nên bố mẹ muốn em vào làm việc tại một cơ quan nhà nước ở huyện để gần nhà, tiện chăm sóc bố mẹ. Cho em hỏi: từ ngày 01/7/2020, em có thể đăng ký tuyển dụng công chức theo phương thức nào?

Trả lời có tính chất tham khảo:

Vấn đề bạn hỏi, chúng tôi trả lời như sau:

          Theo quy định tại Điều 37 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức – Luật số 52/2019/QH14), thì việc tuyển dụng công chức được thực hiện thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển. Hình thức, nội dung thi tuyển, xét tuyển công chức phải phù hợp với yêu cầu vị trí việc làm trong từng ngành, nghề, bảo đảm lựa chọn được người có phẩm chất, trình độ và năng lực.

          Việc tuyển dụng công chức thông qua xét tuyển được thực hiện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức đối với từng nhóm đối tượng sau đây:

- Cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;

- Người học theo chế độ cử tuyển theo quy định của Luật Giáo dục, sau khi tốt nghiệp về công tác tại địa phương nơi cử đi học;

- Sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, nhà khoa học trẻ tài năng.

          Như vậy, đối với trường hợp của bạn thì bạn có thể đăng ký thi tuyển hoặc xét tuyển công chức tùy thuộc vào yêu cầu vị trí việc làm mà cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức quyết định.

 

Cải chính ngày tháng, năm sinh của vợ trong Giấy chứng nhận kết hôn

18/05/2021 14:20:25 - Lý Anh Hoàng

Tôi và vợ đã đăng ký kết hôn tại UBND xã C., huyện Ea Súp ngày 10/11/2015. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, vợ tôi đã xuất trình Giấy chứng minh nhân dân do Công an tỉnh Gia Lai cấp, ghi ngày, tháng, năm sinh là 08/9/1996. Nay lục lại hồ sơ cũ, vợ tôi tìm thấy bản sao Giấy khai sinh do UBND xã T., huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng cấp ngày 18/8/2002 thể hiện ngày, tháng, năm sinh của vợ tôi là 08/9/1998. Ngoài ra, trong Giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu gia đình… hiện nay của vợ tôi cũng ghi ngày, tháng, năm sinh là 08/9/1998. Vậy, tôi có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền cải chính ngày tháng, năm sinh của vợ tôi trong Giấy chứng nhận kết hôn không (vì nếu được cải chính thì tại thời điểm đăng ký kết hôn, vợ tôi chưa đủ tuổi kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình)?

Trả lời có tính chất tham khảo:

1. Về cơ sở pháp lý cải chính Giấy chứng nhận kết hôn

          Theo quy định tại khoản 12 Điều 4 Luật Hộ tịch thì cải chính hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi những thông tin hộ tịch của cá nhân trong trường hợp có sai sót khi đăng ký hộ tịch. Và tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định cải chính hộ tịch là việc chỉnh sửa thông tin cá nhân trong Sổ hộ tịch hoặc trong bản chính giấy tờ hộ tịch và chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định có sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch. Như vậy, về nguyên tắc, nếu có căn cứ để xác định có sai sót trong nội dung đăng ký hộ tịch thì cơ quan đăng ký hộ tịch thực hiện cải chính hộ tịch, phạm vi cải chính bao gồm cả giấy tờ hộ tịch (bản chính) và sổ đăng ký các việc hộ tịch khi người dân có yêu cầu.

          Đối với trường hợp của vợ ông, mặc dù ông đã cung cấp các giấy tờ có liên quan làm căn cứ cho việc cải chính gồm: Bản sao Giấy khai sinh do UBND xã T., huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng cấp ngày 18/8/2002; bản chụp Giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu gia đình…đều thể hiện ngày, tháng, năm sinh của vợ ông là 08/9/1998 nhưng cơ quan có thẩm quyền (UBND huyện Ea Súp) vẫn có thể thực hiện xác minh thêm tại các cơ quan có liên quan về tính hợp lệ, hợp pháp của các giấy tờ này trước khi quyết định việc cải chính ngày, tháng, năm sinh của vợ ông trong Giấy chứng nhận kết hôn theo quy định.

2. Về vấn đề xử lý việc kết hôn trái quy định pháp luật

          Đối với trường hợp của ông, nếu đủ cơ sở thực hiện cải chính ngày, tháng, năm sinh thì tại thời điểm đăng ký kết hôn, vợ ông chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (thời điểm đăng ký kết hôn, vợ ông mới 17 tuổi 02 tháng 02 ngày). Do đó, đây là việc kết hôn trái pháp luật.

          Theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Xử lý việc kết hôn trái pháp luật được Tòa án thực hiện theo quy định tại Luật này và pháp luật về tố tụng dân sự. Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này”.

          Như vậy, sau khi được cải chính hộ tịch, ông cần liên hệ Tòa án nhân dân có thẩm quyền để được hướng dẫn thực hiện việc xử lý kết hôn trái pháp luật theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014./.

 

Có những loại hợp đồng lao động nào?

20/04/2021 08:24:55 - Theo hdpl.moj.gov.vn

Tôi vừa tốt nghiệp lớp học nghề và đang chuẩn bị xin việc làm. Tôi nghe nói, khi được tiếp nhận vào làm việc ở doanh nghiệp thì phải ký hợp đồng lao động với doanh nghiệp. Vậy xin hỏi hợp đồng lao động là gì ? Có những loại hợp đồng lao động nào?

Trả lời có tính chất tham khảo:

Điều 26 Bộ luật Lao động năm 1994 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2002, 2006,2007 quy định: Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

Điều 27 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2002, 2006, 2007 và Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động (Nghị định số 44/2003/NĐ-CP) xác định có các loại hợp đồng sau đây:

1. Hợp đồng lao động không xác định thời hạn áp dụng cho những công việc không xác định được thời điểm kết thúc hoặc những công việc có thời hạn trên 36 tháng.

2. Hợp đồng lao động xác định thời hạn áp dụng cho những công việc xác định được thời điểm kết thúc trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng.

3. Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng áp dụng cho những công việc có thể hoàn thành trong khoảng thời gian dưới 12 tháng hoặc để tạm thời thay thế người lao động bị kỷ luật chuyển làm công việc khác có thời hạn, người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động nghỉ việc vì lý do khác và hợp đồng với người đã nghỉ hưu.

Khi hợp đồng lao động xác định thời hạn và hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp động lao động mới. Trong thời hạn chưa ký được hợp đồng lao động mới, hai bên phải tuân theo hợp đồng lao động đã giao kết. Khi hết thời hạn 30 ngày mà không ký hợp đồng lao động mới, hợp đồng lao động đã giao kết trở thành hợp đồng không xác định thời hạn. Trường hợp ký hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn, thì chỉ được ký thêm một thời hạn không quá 36 tháng, sau đó nếu người lao động tiếp tục làm việc thì ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn; nếu không ký thì đương nhiên trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

Hỏi về Thủ tục hành chính

06/01/2021 11:27:08 - Trần Văn Huy

Tôi muốn hỏi về TTHC lĩnh vực Lý lịch tư pháp ?

Trả lời có tính chất tham khảo:

Anh chị có thể truy cập địa chỉ https://dichvucong.daklak.gov.vn/ để xem chi tiết  các thông tin thủ tục